Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hòa Bình, đến nay lúa trà sớm giai đoạn ôm đòng – trỗ bông; trà chính giai đoạn đứng cái – ôm đòng; trà muộn đứng cái – phân hóa đòng. Dự báo trong thời gian tới thời tiết tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường do đó sẽ ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng phát triển của cây lúa cũng như diễn biến phát sinh gây hại của dịch hạinhư: Tập đoàn rầy (rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ,...), bệnh lùn sọc đen, bệnh bạc lá và đốm sọc vi khuẩn, bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn... phát sinh gây hại mạnh và có khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng phát triển và năng suất lúa nếu không phòng trừ kịp thời.

Để bảo vệ sản xuất, ngày 26/4/2018 Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hòa Bình đã ban hành văn bản số 96/TT&BVTV đề nghị cơ quan chuyên môn các huyện, thành phố tập trung hướng dẫn cơ sở và nông dân biện pháp phòng trừ các đối tượng sinh vật gây hại chính trên cây lúa trong thời gian tới như sau:

Đối với bệnh lùn sọc đen phương Nam

- Khả năng phát sinh gây hại: Theo kết quả báo cáo giám định mẫu lùn sọc đen của Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc,bệnh virus lùn sọc đen phương Nam hại trên lúa đã xuất hiện tại các tỉnh lân cận như Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình... khả năng cao sẽ xuất hiện và gây hại trên diện tích lúa trỗ sau ngày 10/5/2018 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.

Bệnh phát sinh, gây hại có liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ rầy lưng trắng mang mầm bệnh. Cao điểm phát sinh của bệnh lùn sọc đen đều sau các cao điểm gây hại của lưng trắng. Rầy lứa 3 rộ từ 22/4 – 10/5/2018, như vậy cao điểm bệnh lùn sọc đen gây hại nặng từ 10/5 – 25/5/2018.

Toàn bộ các giống lúa vụ Xuân năm 2018 đều có khả năng nhiễm bệnh lùn sọc đen, tuy nhiên mức độ nhiễm bệnh nặng, nhẹ trên các giống khác nhau là khác nhau, tùy thuộc vào thời vụ gieo cấy, thời điểm nhiễm bệnh và độ mẫn cảm của các giống. Các giống mẫn cảm nhất với bệnh lùn sọc đen là giống TBR225, BC15.

- Biện pháp phòng trừ: Thường xuyên quan sát kỹ ruộng lúa; nhổ và cày vùi kịp thời các khóm lúa bị bệnh. Trường hợp trên ruộng lúa đã bị bệnh, có rầy lưng trắng thì tiến hành phun thuốc trừ rầy trên ruộng đó và các ruộng xung quanh.

Sau khi thu hoạch lúa ở ruộng bị bệnh tiến hành ngay cày vùi ruộng đó. Việc tiêu hủy cả ruộng lúa bị bệnh chỉ thực hiện khi ruộng lúa không còn khả năng cho năng suất (nhiễm nặng, khó phục hồi được). Trước khi tiêu hủy phun thuốc trừ rầy bằng loại thuốc tiếp xúc.

Đối với Tập đoàn rầy

- Nguy cơ phát sinh, lây lan, gây hại: Hiện tại rầy lứa 2 tiếp tục gây hại, mật độ phổ biến 20-50con/m2; cao 200-300 con/m2 ở hầu khắp các huyện trong tỉnh, cục bộ 500-600 con/m2 (Mai Châu). Rầy cám lứa 3 bắt đầu xuất hiện với mật độ trung bình 10 -20c/m2, cao 50 -100c/m2 (TPHB, Lương Sơn, Lạc Thủy), sẽ rộ từ nay đến 10/5/2018, lứa này gây hại mạnh nhất, phân bố rộng, hại tập trung các trà lúa giai đoạn ôm đòng - chắc xanh. Mật độ phổ biến 300-500 con/m2, cao 1.000-2.000 con/m2, có thể gây cháy chòm hay cả ruộng trên trà sớm, những chân ruộng lúa sinh trưởng kém, bị hạn. Đây cũng là lứa rầy truyền bệnh lùn sọc đen trên lúa xuân muộn trỗ sau 10/5/2018.

Rầy cám lứa 4 rộ từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6, hại diện hẹp trên lúa trà muộn và diện tích cấy ép, giai đoạn ngậm sữa – chắc xanh, lứa rầy này vẫn có khả năng gây cháy từng ổ nhỏ và cũng là lứa rầy truyền bệnh lùn sọc đen cho diện tích lúa mùa sớm.

- Biện pháp phòng trừ:Chỉ phòng trừ rầy bằng biện pháp hóa học trên những ruộng có mật độ rầy cao trên 2.000 con/m2. Riêng các vùng ổ rầy cũ; bệnh lùn sọc đen xuất hiện vụ Mùa 2017 thì phun trừ rầy nếu phát hiện có rầy lưng trắng.

Những ruộng lúa nhiễm rầy kèm hiện tượng vàng lá do thiếu dinh dưỡng, hay do ngộ độc đất, cần kết hợp phun trừ rầy với việc xử lý vàng lá. Phun thuốc trừ rầy nếu mật độ rầy trên 1.500 con/m2.

Lúa giai đoạn cuối đẻ nhánh, đứng cái-phân hóa đòng sử dụng một trong các loại thuốc như: Midan10WP, Bonus-gold500EC, Amira 25WG, Actara 25WG, Chess 50WG, Patox 4G, 95SP hay những thuốc khác có danh mục được sử dụng tại Việt Nam có đăng ký trừ rầy. Phun theo nồng độ, liều lượng khuyến cáo ghi trên bao bì. Không sử dụng những thuốc thuộc nhóm pyrethroit (Alpha- cypermethrin; fastac, cypermethrin, baythroit, karate, sherpa,...) trên diện tích lúa còn non (chưa ôm đòng) vì đây là những thuốc có phổ tác động rộng, tiêu diệt nhiều loài thiên địch của rầy, dễ làm bùng phát rầy cuối vụ.

Trên diện tích lúa đã ôm đòng - trỗ bông, phơi màu, sử dụng một trong các loại thuốc tiếp xúc như: Nibas 50EC; Mopride 20WP; Bassa 50EC, Virtako 40WG, Mofitox 40EC hay những thuốc khác có danh mục được sử dụng tại Việt Nam có đăng ký trừ rầy. Phun theo nồng độ, liều lượng khuyến cáo ghi trên bao bì. Khi phun phải rẽ lúa, lùa vòi phun xuống dưới đảm bảo để thuốc tiếp xúc trực tiếp với rầy cư trú.

Nếu phun xong mật độ rầy vẫn còn cao phải phun lại lần 2, cách lần 1từ 3-5 ngày, những ruộng phun xong gặp mưa cần tiến hành phun lại.

- Thời điểm phòng trừ: Với những diện tích rầy hiện tại tuổi 1-3 tập trung phun từ nay đến 05/5/2018; Với những diện tích rầy hiện tại trưởng thành – trứng tập trung phun trừ rầy từ 30/4/2018 – 15/5/2018.

Đối với bệnh đạo ôn

- Bệnh đạo ôn lá đã xuất hiện, gây hại trên giống nhiễm (BC15, TBR 225, Thục hưng 12, Th3-3, Th3-4, nếp,...) ngay từ giai đoạn lúa đẻ nhánh, sớm hơn cùng kỳ và trung bình nhiều năm, tỷ lệ phổ biến 1-3% số lá, cao 5-15% số lá, cục bộ 30 – 40% số lá, diện tích nhiễm hiện tại 64,1 ha (năm 2017 là 45 ha).

Trong thời gian tới: Trên lá bệnh tiếp tục phát sinh gây hại chủ yếu giống nhiễm, vùng ổ bệnh cũ từ nay đến trung tuần tháng 5 tỷ lệ phổ biến 1-3%, cao 5-15%, cục bộ 25-40% số lá.

Trên cổ bông: Bệnh có thể xuất hiện gây hại từ cuối tháng 4 trên trà sớm, cao điểm hại tập trung trong nửa đầu tháng 5 hại chủ yếu trên một số giống nhiễm như BC15, TBR 225, Thục hưng 12, Th3-3, Th3-4, nếp,...tỷ lệ phổ biến 1-2%, cao 5-7 %, cục bộ 10-15%, nếu không phòng trừ kịp thời có thể lên đến trên 50% số bông.

- Biện pháp phòng trừ:Những ruộng bị bệnh cần giữ đủ nước, không bón đạm hoặc phun phân bón lá có chứa đạm và phun trừ bằng một trong các thuốc Filia 525SE; Bump gold 40SE, 40WP, 80WP; Amistar Top 325SC;; Trizole 20WP, 75WP; Genol 0,3SL, 1,2SL; v.v. hay những thuốc khác có danh mục được sử dụng tại Việt Nam có đăng ký trừ bệnh đạo ôn. Phun theo hướng dẫn in trên bao bì;

Những ruộng bị bệnh nặng cần phun kép 2 lần cách nhau 3-5 ngày bằng một trong các thuốc nêu trên. Phun xong (trong vòng 12 giờ) gặp mưa cần tiến hành phun lại;

Những ruộng đã bị đạo ôn lá cần phun phòng đạo ôn cổ bông bằng một trong các thuốc nêu trên khi lúa bắt đầu trỗ và khi lúa trỗ đều (sau lần một 5-7 ngày).

Đối với bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn

- Bệnh xuất hiện từ đầu tháng 4 trên trà sớm, tuy nhiên diện phân bố và mức độ gây hại thấp hơn cùng kỳ năm trước. Bệnh có xu hướng gia tăng trong thời gian tới đặc biệt sau những trận mưa dông, vùng chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão trên các giống nhiễm như: Nhị ưu 838, TH3-3, TH3-4, GS9, Bắc thơm số 7, BC15, TBR 225... Những ruộng bón quá nhiều đạm, bón đạm muộn, bón không cân đối, những giống lúa lá to bản, lá mềm, màu xanh đậm sẽ bị hại nặng gây khô cháy bộ lá từng ổ hay cả ruộng.

- Biện pháp phòng trừ: Những ruộng bị bệnh cần giữ đủ nước, không bón đạm hoặc phun phân bón lá có chứa đạm và phun trừ bằng một trong các thuốc: Norshield 86.2WG; Apolits 20WP, 30WP, 40WP; Aliette 800 WG; Starsuper 10SC, 20SL, 20WP, 21SL, 60WP; Starner 20WP; Supervery 50WP; v.v hay những thuốc khác có danh mục được sử dụng tại Việt Nam có đăng ký trừ đối tượng này.

Đối với bệnh khô vằn

- Bệnh xuất hiện gây hại từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 5 trên các trà lúa. Bệnh hại mạnh những ruộng bón phân không cân đối, bón thừa đạm, ruộng trũng,... Tỷ lệ bệnh phổ biến 7-10%, cao 20-50% số lá, có ruộng trên 70% số lá, bệnh nặng hại cả bẹ lá đòng làm nghẹn đòng, khô lá, hạt lép lửng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất nếu không phòng trừ kịp thời.

- Biện pháp phòng trừ: Những ruộng bị bệnh cần giữ đủ nước, không bón đạm hoặc phun phân bón lá có chứa đạm và phun trừ bằng một trong các thuốc: Vanicide 5SL; Anvil 5SC; Dibazole 5SC; Grandgold 80SC, 140SC; Kansui 21,2WP...hay những thuốc khác có danh mục được sử dụng tại Việt Nam có đăng ký trừ đối tượng này. Phun theo hướng dẫn in trên bao bì.

Đối với Sâu đục thân bướm hai chấm

- Hiện tại sâu non lứa 2 bắt đầu gây hại rải rác trên các trà lúa. Tỷ lệ dảnh héo, phổ biến 0,5-1%, cao 2-3%. Sâu non tiếp tục gây hại chủ yếu trên diện tích lúa chính vụ trỗ bông sau 5/4, tỷ lệ bông bạc phổ biến 3-7%, cao trên 10%.

- Biện pháp phòng trừ:

Đối với lúa giai đoạn đẻ nhánh - đứng cái: Xử lý những ruộng có tỷ lệ dảnh héo >10% hoặc 0,5 ổ trứng/m2.

Đối với lúa lúa giai đoạn đòng trỗ: Tiến hành xử lý khi tỷ lệ dảnh héo 5% hoặc 0,3 ổ trứng/m2.

Thời điểm phòng trừ tốt nhất khi sâu tuổi 1-3, sau khi trưởng thành vũ hóa 7-10 ngày.

Có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau: Regent 800WG; Tango 50SC; Bonus-gold 500EC... hay những thuốc khác có danh mục được sử dụng tại Việt Nam có đăng ký trừ đối tượng này. Phun theo nồng độ, liều lượng hướng dẫn trên bao bì. Ruộng phun xong gặp mưa (trong vòng 12h) thì phải phun lại./.

Văn phòng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (T/h)

dichvucong

 

danhoigiamdocsotraloi 
 22547852 1669333133096944 1027032437 n

layykienvanban

QUY TRINH KY THUAT copy

BAOVETHUCVAT

CHANNUOI-THU-Y
CHI CUC THUY SAN 1
chi-cuc-kiem-lam
cong-trinh-thuy-loi jpg
nn
chi cuc-quan ly chat luong nlts
Template Settings

Color

For each color, the params below will be given default values
Blue Oranges Red

Body

Background Color
Text Color

Header

Background Color

Spotlight3

Background Color

Spotlight4

Background Color

Spotlight5

Background Color

Footer

Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction