Theo kết quả bộ chỉ số theo dõi - đánh giá NS&VSMTNT năm 2013, dân số nông thôn của tỉnh ta được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 78%. Trong đó, 59,71% người nghèo được sử dụng nước hợp vệ sinh, 64,2% trường mầm non và phổ thông, 69,5% trạm y tế xã ở nông thôn có nước hợp vệ sinh.

 

Công trình cấp nước có trụ vòi tại xã Pà Cò (Mai Châu) do Ban Dân tộc tỉnh làm chủ đầu tư được bàn giao cho UBND xã quản lý, vận hành, góp phần phát huy hiệu quả công trình bền vững.

 

Tỷ lệ người dân được sử dụng công trình nước sinh hoạt hợp vệ sinh có xu hướng giảm so với năm trước. Có một thực tế là sau quá trình bàn giao và đưa vào sử dụng chưa lâu, nhiều công trình xuống cấp, hư hỏng, không còn phát huy tác dụng với đời sống.

Cũng theo kết quả rà soát hiện trạng, toàn tỉnh có 311 công trình cấp nước sinh hoạt được đầu tư bằng các nguồn vốn, trong đó còn 82 công trình hoạt động bền vững, 79 công trình hoạt động bình thường, 95 công trình hoạt động kém hiệu quả và 33 công trình không hoạt động. Cụ thể, có 244 công trình do UBND các huyện, thành phố làm chủ đầu tư, 52 công trình do Sở NN & PTNT làm chủ đầu tư, 15 công trình do Ban Dân tộc tỉnh làm chủ đầu tư. Đối với các công trình đầu tư từ nguồn vốn Chương trình 134, 135 cấp huyện làm chủ đầu tư có 95 công trình hoạt động không hiệu quả, 33 công trình không hoạt động là do khâu khảo sát, thiết kế và lập dự án chưa phù hợp với đặc điểm địa hình, địa chất và nguồn nước. Nhiều công trình đưa vào sử dụng trong thời gian ngắn đã bị bồi lắng hoặc hư hỏng, mục tiêu đầu tư, quá trình thực hiện đầu tư, phân cấp quản lý không chặt chẽ, chồng chéo. Thêm vào đó là khâu quản lý, vận hành, sử dụng, khai thác công trình cấp nước sau đầu tư còn nhiều yếu kém.

Đối với công trình do Sở NN & PTNT làm chủ đầu tư, có 16 công trình cấp nước kém hiệu quả được đầu tư xây dựng trong giai đoạn 1999 - 2000, nay đã hết thời gian khấu hao, nguyên nhân chính do nguồn nước cung cấp cho công trình không đủ. Hơn nữa, công trình do BQL dự án ADB thực hiện chưa bàn giao cụ thể tài sản cho địa phương quản lý, hình thức cấp nước bằng bể tập trung và trụ vòi đến KDC theo mô hình đến nay không còn phù hợp, công tác quản lý công trình không được quan tâm. Có 4 công trình không hoạt động do nguồn nước cung cấp đầu nguồn hiện tại không còn, ảnh hưởng của bão làm trôi các tuyến đường ống chính, sét đánh trạm biến áp nên không vận hành được máy bơm...

Qua khảo sát, giám sát tình hình giải ngân các nguồn vốn thuộc Chương trình MTQG và hiệu quả đầu tư sử dụng các công trình cấp nước sinh hoạt thuộc Chương trình MTQG về NS&VSMTNT giai đoạn 2012 - 2014 do Ban Kinh tế & Ngân sách (HĐND tỉnh) thực hiện tại 6 xã thuộc 3 huyện Kim Bôi, Lạc Sơn, Mai Châu cho thấy một số hạn chế: Hầu hết các công trình cấp nước sinh hoạt chưa đáp ứng được yêu cầu, hiệu quả sử dụng nước sạch cho nhân dân không hoạt động hết công suất hoặc thiếu nước mùa khô. Công tác quản lý, vận hành công trình, sử dụng nước chưa chặt chẽ. BQL, tổ vận hành còn hạn chế về trình độ quản lý, chuyên môn. Công tác duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa không kịp thời, thất thoát nước sạch còn lớn. Bên cạnh đó, bàn giao tài sản và giá trị một số công trình cũng chưa được tiến hành theo đúng quy định, dẫn đến tình trạng có công trình sau khi xây dựng, hoàn thành, đưa vào sử dụng nhưng không biết cơ quan nào quản lý.

Đồng chí Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng: ý thức bảo quản công trình từ phía người dân, sự yếu kém về năng lực quản lý với các công trình sau đầu tư, nhất là công trình cấp nước sinh hoạt nhỏ lẻ ở thôn, xóm cần sớm được khắc phục. Cơ chế quản lý, vận hành chưa thống nhất, rõ ràng gây khó khăn trong vận dụng, tỉnh đang xây dựng quy định quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng các công trình cấp nước tập trung nông thôn trên địa bàn, xây dựng đơn giá thu, chi tiền nước đối với từng loại công trình. Quan điểm của tỉnh là với công trình hư hỏng không phát huy hiệu quả hoặc hiệu quả thấp sẽ tiến hành đánh giá, phân loại cụ thể. Với công trình có khả năng phát huy hiệu quả, ưu tiên sửa chữa, nâng cấp, không tiếp tục đầu tư đối với công trình hư hỏng không có khả năng phát huy hiệu quả. Đối với công trình xây mới, căn cứ khả năng huy động các nguồn lực, sự cần thiết đầu tư dự án tại địa phương để lựa chọn dự án ưu tiên. UBND tỉnh tiến tới sẽ ban hành quy định về quản lý, sử dụng và khác thác công trình theo Thông tư số 54/2013/TT - BTC ngày 14/3/2013 của Bộ Tài chính. Đồng thời, xây dựng và ban hành các văn bản chính sách về đặc thù phù hợp với điều kiện địa phương, thúc đẩy thực hiện chương trình. Đề cao sự tham gia của người dân, vai trò, trách nhiệm của chính quyền xã, thôn, bản khi thực hiện chương trình; chủ động lồng ghép nguồn vốn các chương trình, tăng cường huy động tổng hợp các nguồn lực để tập trung thực hiện theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm; tăng cường kiểm tra, giám sát, quản lý, khai thác các công trình cấp nước sau đầu tư và đẩy mạnh kiểm tra chất lượng công trình, chất lượng nguồn nước, công tác thông tin, giáo dục, truyền thông các cấp từ tuyến tỉnh đến cơ sở và người dân, nhất là trách nhiệm người dân trong quản lý, sử dụng các công trình nước sạch, tổ chức quản lý, bảo vệ tốt nguồn sinh thủy, không chặt phá rừng đầu nguồn, sử dụng thuốc diệt cỏ, hóa chất độc hại... Lựa chọn người có tâm huyết, trách nhiệm, trình độ chuyên môn để quản lý, vận hành, khai thác hiệu quả các công trình./.

(Nguồn: HBĐT)

dichvucong

 

danhoigiamdocsotraloi 
 22547852 1669333133096944 1027032437 n

layykienvanban

QUY TRINH KY THUAT copy

BAOVETHUCVAT

CHANNUOI-THU-Y
CHI CUC THUY SAN 1
chi-cuc-kiem-lam
cong-trinh-thuy-loi jpg
nn
Template Settings

Color

For each color, the params below will be given default values
Blue Oranges Red

Body

Background Color
Text Color

Header

Background Color

Spotlight3

Background Color

Spotlight4

Background Color

Spotlight5

Background Color

Footer

Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction